Dự thảo Nghị định về một số chính sách phát triển thủy sản do Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì xây dựng vẫn đang được lấy ý kiến, trong đó dành nhiều nội dung quan trọng cho lĩnh vực nuôi trồng thủy sản.
Ưu tiên công nghệ
Theo Dự thảo Nghị định về một số chính sách phát triển thủy sản, một trong những nội dung được quan tâm là định hướng hỗ trợ các cơ sở nuôi trồng thủy sản chuyển sang mô hình sản xuất bền vững, tiết kiệm tài nguyên và giảm tác động đến môi trường. Trong đó, các cơ sở đáp ứng điều kiện theo quy định được ưu tiên lồng ghép, bố trí hỗ trợ từ các chương trình, dự án đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt nếu áp dụng các công nghệ, phương thức nuôi phù hợp.
Các nhóm được ưu tiên hỗ trợ sẽ gồm mô hình nuôi tuần hoàn, ít thay nước và tiết kiệm tài nguyên; nuôi sinh thái, hữu cơ, nuôi kết hợp; đồng thời áp dụng công nghệ giảm phát thải khí nhà kính hoặc tăng khả năng hấp thụ khí nhà kính theo quy định của pháp luật về môi trường.
Chính sách hỗ trợ chuyển đổi vật liệu lồng bè sẽ góp phần nâng cao hiệu quả nuôi biển. Ảnh: ST
Theo đánh giá của các chuyên gia, chính sách này sẽ tạo động lực để người nuôi thay đổi phương thức sản xuất. Trong bối cảnh chi phí đầu vào, nguồn nước, năng lượng và yêu cầu về môi trường ngày càng trở thành những yếu tố quyết định hiệu quả nuôi trồng, việc ưu tiên các mô hình tiết kiệm tài nguyên có thể tạo ra lợi ích kép là giảm chi phí sản xuất và giảm áp lực lên môi trường.
Tuy nhiên, dự thảo cũng nhấn mạnh việc chính sách hỗ trợ được thực hiện trong phạm vi nhiệm vụ, dự toán và nguồn vốn của từng chương trình, dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Như vậy, quy định không tạo ra một cơ chế hỗ trợ tự động cho mọi cơ sở đáp ứng điều kiện, mà việc hỗ trợ còn phụ thuộc vào nguồn lực và chương trình cụ thể.
Để người dân dễ tiếp cận chính sách hỗ trợ, dự thảo quy định rõ việc quyết định phê duyệt hỗ trợ phải xác định rõ nội dung, mức hỗ trợ, nguồn vốn, vốn đối ứng, chỉ tiêu đầu ra, thời gian duy trì kết quả sau hỗ trợ cũng như trách nhiệm kiểm tra, giám sát. Đây là cơ chế cần thiết nhằm bảo đảm ngân sách được sử dụng đúng mục tiêu và tránh đầu tư dàn trải.
Đối với nuôi trồng thủy sản công nghệ cao, nuôi thâm canh, các hạng mục được xem xét hỗ trợ gồm hệ thống cấp, thoát, tuần hoàn và xử lý nước; khu cách ly, kiểm soát người, phương tiện, vật tư và động vật thủy sản; hệ thống quan trắc, cảm biến, camera, Internet vạn vật và phần mềm quản lý, cảnh báo môi trường, dịch bệnh. Cùng đó là hệ thống thu gom, xử lý bùn, nước thải, chất thải rắn, tái sử dụng phụ phẩm, tuần hoàn tài nguyên; xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc và chia sẻ dữ liệu sản xuất.
Tạo động lực cho sản xuất công nghiệp xa bờ
Một điểm nhấn khác trong dự thảo là chính sách phát triển nuôi trồng thủy sản trên biển theo hướng công nghiệp, xa bờ, công nghệ cao và gắn với chuỗi giá trị. Trong đó, chính sách sẽ tập trung hỗ trợ những hạng mục mang tính thiết yếu đối với vùng nuôi biển. Các khoản được xem xét gồm hệ thống neo, phao báo hiệu, cảnh báo an toàn và công trình bảo đảm an toàn vùng nuôi; hệ thống quan trắc, giám sát, cảnh báo tự động; hệ thống thu gom chất thải, bảo vệ môi trường, tái sử dụng phụ phẩm và ứng phó sự cố.
Bên cạnh đó là hạ tầng dịch vụ, bảo quản, sơ chế, vận chuyển dùng chung; hệ thống dữ liệu, chứng nhận, truy xuất nguồn gốc và các công nghệ, thiết bị phục vụ an toàn công trình, an toàn sinh học, thích ứng với sóng, gió.
Ngoài ra, dự thảo cũng đặt ra các điều kiện tương đối chặt chẽ đối với dự án được xem xét hỗ trợ. Cụ thể, chủ đầu tư phải có quyết định giao/cho thuê khu vực biển hoặc giấy tờ hợp pháp về sử dụng khu vực biển; hồ sơ đầu tư được phê duyệt; thiết kế đáp ứng yêu cầu về chịu sóng, gió, an toàn công trình và người lao động. Đồng thời, dự án phải có phương án ứng phó thiên tai, sự cố môi trường, quan trắc, thu gom chất thải, bảo hiểm và liên kết tiêu thụ sản phẩm. Các dự án nuôi xa bờ, ứng dụng công nghệ cao, tự động hóa, nuôi kết hợp và có liên kết theo chuỗi giá trị được ưu tiên xem xét hỗ trợ.
Tăng nguồn lực hỗ trợ tạo động lực để người nuôi thay đổi phương thức sản xuất
Về quy mô, dự thảo quy định dự án nuôi rong biển, nhuyễn thể phải có tổng diện tích tối thiểu 10 ha; dự án nuôi lồng trên biển phải có tổng dung tích nuôi tối thiểu 10.000 m³. Trong đó, dự án rong biển, nhuyễn thể được hỗ trợ tối đa 10% chi phí hợp lệ nhưng không quá 5 tỷ đồng; dự án nuôi lồng trên biển được hỗ trợ tối đa 10% nhưng không quá 15 tỷ đồng cho mỗi dự án.
Cùng với đó, chủ đầu tư phải cam kết duy trì hoạt động và không chuyển nhượng tài sản được hỗ trợ trong ít nhất 5 năm kể từ ngày nghiệm thu, trừ trường hợp bất khả kháng hoặc được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận. Quy định này nhằm tránh tình trạng đầu tư để nhận hỗ trợ nhưng không duy trì dự án hoặc chuyển nhượng tài sản ngay sau khi được ngân sách hỗ trợ.
Bên cạnh phát triển dự án mới, dự thảo cũng nêu rõ chính sách hỗ trợ chuyển đổi vật liệu lồng bè, bao gồm vật liệu lồng bè, phao, hệ thống neo; thiết kế, lắp đặt, kiểm định; thu gom, vận chuyển, xử lý vật liệu cũ và đào tạo vận hành, bảo dưỡng, an toàn. Trong đó, hợp tác xã, tổ hợp tác, hộ gia đình, cá nhân được hỗ trợ tối đa 50% chi phí hợp lệ, nhưng không quá 1 tỷ đồng cho mỗi dự án.
Theo các chuyên gia, chính sách này có ý nghĩa thực tiễn đối với những vùng nuôi đang sử dụng vật liệu không còn phù hợp với yêu cầu kỹ thuật, an toàn hoặc môi trường. Đồng thời, việc giao UBND cấp tỉnh xây dựng lộ trình chuyển đổi theo từng khu vực nuôi, trên cơ sở khung tiêu chí, danh mục và thời hạn do Bộ Nông nghiệp và Môi trường hướng dẫn được đánh giá tạo điều kiện để chính sách được triển khai phù hợp với đặc thù từng địa phương.
Phát biểu tại cuộc họp rà soát, hoàn thiện dự thảo Nghị định về một số chính sách phát triển thủy sản đầu tháng 6 vừa qua, ông Nguyễn Quang Hùng, Phó cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư, cho biết: Dự thảo Nghị định quán triệt mạnh mẽ chủ trương phân cấp, phân quyền. Theo đó, các bộ, ngành Trung ương tập trung xây dựng chiến lược, quy hoạch, tiêu chuẩn, quy chuẩn, định mức và cơ chế giám sát; trong khi địa phương được trao quyền chủ động hơn trong việc xây dựng và triển khai các chương trình, dự án phù hợp với điều kiện thực tiễn và khả năng cân đối nguồn lực của từng địa phương.
Bảo Hân
Nguồn: https://thuysanvietnam.com.vn/mo-rong-nguon-luc-ho-tro-trong-nuoi-trong-thuy-san/