Nuôi biển An Giang cần thể chế tốt, công nghệ, liên kết

Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 được đặt trong bối cảnh An Giang tìm hướng phát triển kinh tế biển theo chiều sâu, với nuôi biển công nghiệp, hiện đại và bền vững là một trong những trọng tâm... Tuy nhiên, từ tiềm năng mặt nước đến một ngành kinh tế có sức cạnh tranh vẫn còn khoảng cách đáng kể.

Hội thảo do UBND tỉnh An Giang tổ chức ngày 27/10 đã đặt ra yêu cầu chuyển từ định hướng sang những giải pháp cụ thể về quy hoạch, giao khu vực biển, công nghệ, tín dụng, thị trường và trách nhiệm quản lý nhà nước.

Từ lợi thế tự nhiên đến bài toán thể chế và tổ chức sản xuất

An Giang có không gian biển, hệ thống đảo và cộng đồng cư dân gắn bó lâu đời với nghề biển… Đây là nền tảng quan trọng để phát triển nuôi trồng thủy sản, đa dạng hóa sinh kế và mở rộng các hoạt động kinh tế liên quan. Nhưng lợi thế tự nhiên không tự chuyển hóa thành giá trị kinh tế nếu thiếu quy hoạch phù hợp, hạ tầng đồng bộ, công nghệ thích ứng và một cơ chế tổ chức sản xuất hiệu quả.

0_1793168453.jpg
Chủ tịch UBND tỉnh An Giang Hồ Văn Mừng nhấn mạnh yêu cầu chuyển từ nuôi biển truyền thống sang sản xuất có tổ chức, ứng dụng khoa học - công nghệ và gắn chặt với thị trường…

Tại Hội thảo “Phát triển bền vững nuôi biển tỉnh An Giang giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045”, Chủ tịch UBND tỉnh Hồ Văn Mừng nhấn mạnh yêu cầu chuyển từ nuôi biển truyền thống sang sản xuất có tổ chức, ứng dụng khoa học - công nghệ và gắn chặt với thị trường. Theo định hướng của tỉnh, phát triển nuôi biển không chỉ nhằm tăng diện tích hay sản lượng mà phải hướng đến năng suất, giá trị gia tăng, năng lực cạnh tranh, khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu và cải thiện thu nhập người dân.

Đây cũng là điểm cần được nhìn nhận đúng khi bàn về vai trò của Nghị quyết số 20-NQ/TW mà nội dung Hội thảo đề cập. Việc gắn định hướng phát triển kinh tế biển với một nghị quyết của Trung ương cần được cụ thể hóa bằng những nhiệm vụ có thể kiểm chứng, thay vì dừng ở việc viện dẫn chủ trương. Đối với An Giang, điều quan trọng là xác định rõ cơ chế nào cần hoàn thiện, nguồn lực nào cần huy động, cơ quan nào chịu trách nhiệm và kết quả nào phải đạt được trong từng giai đoạn.

Trong phát biểu khai mạc, ông Hồ Văn Mừng xác định năm nhóm định hướng trọng tâm: quy hoạch không gian và sức chịu tải môi trường; ứng dụng khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị; đặt người dân ở vị trí trung tâm; và chuyển định hướng thành nhiệm vụ cụ thể với lộ trình, trách nhiệm rõ ràng.

Những yêu cầu này cho thấy tỉnh đã đặt vấn đề phát triển nuôi biển trong mối quan hệ giữa kinh tế, môi trường và sinh kế, tuy nhiên, thách thức lớn nằm ở khâu thực thi. Quy hoạch vùng nuôi không thể chỉ xác định nơi có thể đặt lồng bè mà phải tính đến sức chịu tải của môi trường, khả năng cấp phép, luồng hàng hải, hoạt động khai thác thủy sản, bảo tồn thiên nhiên và phát triển du lịch.

Nếu các không gian này không được điều phối từ đầu, sự phát triển của một ngành có thể tạo ra xung đột với ngành khác. Ngược lại, quy hoạch dựa trên dữ liệu, có sự tham gia của cộng đồng và được quản lý minh bạch sẽ giúp giảm rủi ro cho cả người nuôi lẫn nhà đầu tư.

Báo cáo của Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang tại Hội thảo đã cung cấp cơ sở để nhìn nhận tiềm năng, kết quả thực hiện đề án nuôi biển giai đoạn 2021 - 2025, ước thực hiện năm 2026 và định hướng đến năm 2030, tầm nhìn năm 2045... Thông tin báo cáo cũng đồng thời chỉ ra thực trạng sản xuất còn phân tán, quy mô nhỏ, phương thức truyền thống vẫn phổ biến.

4_1793168453.jpg
Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang Lê Hữu Toàn trình bày báo cáo tại Hội thảo

Khoảng cách giữa mục tiêu và hiện trạng đòi hỏi cách tiếp cận chính sách khác với việc chỉ khuyến khích tăng số lượng lồng nuôi. Tỉnh An Giang cần xác định những vùng có điều kiện thuận lợi để phát triển tập trung, lựa chọn đối tượng nuôi phù hợp, xây dựng hạ tầng thiết yếu và ưu tiên những dự án có khả năng tạo liên kết sản xuất - tiêu thụ.

Một điểm nghẽn quan trọng khác là thủ tục giao khu vực biển, Chủ tịch UBND tỉnh đặt vấn đề về những khó khăn còn tồn tại sau các bước hoàn thiện quy định liên quan, trong đó có Nghị định số 11/2021/NĐ-CP, Nghị định số 65/2025/NĐ-CP và Nghị định số 44/2026/NĐ-CP… Câu hỏi đặt ra không chỉ là thủ tục đã được đơn giản hóa đến đâu, mà còn là thời gian xử lý, tính ổn định của quyền sử dụng khu vực biển và khả năng tiếp cận của các hộ nuôi, hợp tác xã, doanh nghiệp.

Đối với nhà đầu tư, tính minh bạch và khả năng dự đoán của thủ tục là điều kiện quan trọng để quyết định vốn dài hạn. Đối với ngư dân, sự rõ ràng về khu vực được phép nuôi giúp hạn chế đầu tư tự phát, giảm nguy cơ phải di dời lồng bè và tạo điều kiện tiếp cận tín dụng chính thức.

Vì vậy, chính sách phát triển nuôi biển cần đi cùng một cơ chế phối hợp liên ngành thực chất, đồng thời Cơ quan quản lý thủy sản không thể đơn độc giải quyết các vấn đề về giao khu vực biển, xây dựng hạ tầng, tín dụng, môi trường, du lịch và an toàn hàng hải… mà các sở, ngành phải có quy trình phối hợp, đầu mối chịu trách nhiệm và thời hạn giải quyết cụ thể.

Công nghiệp hóa phải bắt đầu từ công nghệ, vốn và thị trường

Tại Hội thảo, nói về phát triển nuôi biển ở An Giang trong bối cảnh mới, PGS,TS. Nguyễn Chu Hồi, nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam, đặt vấn đề phát triển nuôi biển trong mối quan hệ với những thay đổi về không gian phát triển, quản trị biển và yêu cầu sử dụng tài nguyên bền vững. Những lưu ý từ góc độ khoa học biển gợi mở rằng nuôi biển không nên được xem là hoạt động sản xuất biệt lập, mà cần đặt trong tổng thể kinh tế biển và hệ sinh thái biển.

Điều này có ý nghĩa đặc biệt đối với An Giang, nơi các hoạt động nuôi trồng, khai thác, du lịch và bảo tồn cùng hiện diện. Phát triển nhanh nhưng thiếu kiểm soát có thể làm tăng áp lực lên môi trường, trong khi đầu tư quá phân tán sẽ khiến chi phí quản lý, cung ứng vật tư và tổ chức thu mua đều cao. Bài toán vì thế là lựa chọn mô hình phù hợp với từng vùng biển, thay vì áp dụng đồng loạt một công nghệ hay một đối tượng nuôi.

6_1793168453.jpg
PGS,TS. Nguyễn Hữu Dũng, Chủ tịch Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam phân tích cơ hội và giải pháp công nghiệp hóa ngành nuôi biển tỉnh An Giang

Cụ thể hơn, PGS,TS. Nguyễn Hữu Dũng, Chủ tịch Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam đã phân tích cơ hội và giải pháp công nghiệp hóa ngành nuôi biển tỉnh An Giang, đồng thời đã đặt ra những lợi thế về điều kiện tự nhiên và đối tượng nuôi có giá trị. Song với đó, cũng chỉ rõ những điểm yếu như lồng bè còn thô sơ, nguồn thức ăn phụ thuộc cá tạp, khó khăn về con giống và yêu cầu kiểm soát rủi ro môi trường...

Công nghiệp hóa trong trường hợp này không đơn thuần là thay lồng gỗ bằng lồng vật liệu mới, mà đó là quá trình chuẩn hóa đồng bộ từ thiết kế hệ thống nuôi, quản lý con giống, thức ăn, chăm sóc và phòng bệnh đến quan trắc môi trường, ghi chép dữ liệu, thu hoạch và truy xuất nguồn gốc. Nên nếu chỉ đầu tư thiết bị nhưng vẫn duy trì cách tổ chức sản xuất cũ, hiệu quả tổng thể khó đạt như kỳ vọng.

PGS,TS. Võ Văn Nha, Phó Giám đốc Viện Khoa học Thủy sản Việt Nam, tập trung vào việc lựa chọn đối tượng nuôi biển tiềm năng cho An Giang trên cơ sở khoa học và thực tiễn. Đây là khâu có ý nghĩa quyết định, bởi không phải loài có giá bán cao nào cũng phù hợp với mọi vùng biển. Lựa chọn đối tượng nuôi cần căn cứ vào điều kiện môi trường, khả năng cung ứng giống, thời gian nuôi, nhu cầu thức ăn, dịch bệnh, kỹ thuật chăm sóc và khả năng tiêu thụ.

Việc lựa chọn sai đối tượng hoặc phát triển vượt quá khả năng cung ứng giống, thức ăn và dịch vụ kỹ thuật có thể làm tăng chi phí, tạo áp lực lên môi trường và đẩy người nuôi vào thế phụ thuộc thương lái. Do đó, nghiên cứu khoa học cần gắn với các mô hình thử nghiệm có kiểm soát, đánh giá hiệu quả kinh tế qua nhiều chu kỳ và công khai các điều kiện để nhân rộng.

Ở khâu thị trường, bà Trần Thụy Quế Phương, Phó Tổng Thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) đưa ra một thông điệp đáng chú ý: phát triển nuôi biển cần bắt đầu từ nhu cầu thị trường và đầu ra, thay vì chỉ tập trung mở rộng sản lượng.

Theo số liệu trình bày của VASEP, nhiều nhóm sản phẩm nuôi biển có hoạt động xuất khẩu đáng kể, trong đó tôm hùm, cua, nghêu, sò điệp và cá chẽm… là những mặt hàng được thống kê. Tuy nhiên, cơ hội tiếp cận thị trường quốc tế luôn đi kèm yêu cầu về chất lượng, truy xuất nguồn gốc, chứng nhận vùng nuôi, bảo quản sau thu hoạch và logistics.

VASEP đề xuất An Giang quy hoạch vùng nuôi gắn với nhu cầu nguyên liệu của doanh nghiệp chế biến và thị trường xuất khẩu; ưu tiên hạ tầng thu hoạch, bảo quản, logistics và truy xuất nguồn gốc. Hiệp hội cùng các doanh nghiệp thành viên cũng bày tỏ sẵn sàng phối hợp cung cấp thông tin thị trường, yêu cầu của nhà nhập khẩu và tiêu chuẩn nguyên liệu.

Từ góc độ phản biện, đây là điều kiện cần nhưng chưa đủ, nên việc có doanh nghiệp cam kết thu mua không đồng nghĩa toàn bộ sản phẩm sẽ tiêu thụ thuận lợi. Cần quy định rõ tiêu chuẩn chất lượng, cách xác định giá, trách nhiệm khi thị trường biến động và phương án xử lý sản phẩm không đạt yêu cầu. Nếu hợp đồng thiếu cơ chế chia sẻ rủi ro, người nuôi vẫn là bên dễ chịu thiệt hại nhất.

19_1793169054.jpg
Cơ chế hỗ trợ vốn 03 bên gắn với lồng HDPE trên biển được bà Nguyễn Thị Hải Bình, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Tập đoàn STP giới thiệu tại Hội thảo. 

Bên cạnh đó, tín dụng cũng là vấn đề cần được giải quyết đồng bộ, tại Hội thảo, bà Nguyễn Thị Hải Bình, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Tập đoàn STP, giới thiệu cơ chế hỗ trợ vốn 03 bên gắn với lồng HDPE. Mô hình thí điểm được trình bày tại 13 hộ dân ở Hòn Sơn và Phú Quốc, với đề xuất Nhà nước hỗ trợ 30% kinh phí, ngân hàng hỗ trợ vốn vay và doanh nghiệp tham gia hỗ trợ lãi vay hoặc phương án thuê, trả góp lồng nuôi.

Đây là hướng tiếp cận có khả năng giảm rào cản đầu tư ban đầu cho hộ nuôi, tuy nhiên để mở rộng, cần làm rõ điều kiện thụ hưởng, cơ chế bảo đảm khoản vay, chi phí thực tế, thời hạn trả nợ và trách nhiệm khi xảy ra thiên tai hoặc dịch bệnh… Chính sách hỗ trợ chỉ phát huy hiệu quả khi gắn với phương án sản xuất khả thi và khả năng trả nợ, không tạo thêm gánh nặng tài chính cho người dân.

Hơn thế nữa, một nền nuôi biển công nghiệp còn cần nhân lực được đào tạo bài bản… PGS,TS. Thái Thanh Bình, Phó Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật và Thủy sản, đề cập nhu cầu tái cấu trúc nhân lực theo hướng kết hợp kiến thức chuyên môn với kỹ năng vận hành công nghệ, an toàn hàng hải và quản lý môi trường. Các trường, viện và doanh nghiệp cần liên kết đào tạo thực hành ngay tại cơ sở nuôi, thay vì chỉ tổ chức các khóa tập huấn ngắn hạn.

Cùng với đó, ThS. Bùi Thị Thu Hiền, đại diện IUCN tại Việt Nam, đặt vấn đề liên kết nuôi biển với vùng bảo tồn và các khu vực OECM, hướng tới xây dựng thương hiệu xanh. TS. Hoàng Xuân Bền, Phó Viện trưởng Viện Hải dương học, trình bày kinh nghiệm quốc tế về nuôi biển tự nhiên, gợi mở khả năng kết hợp tái tạo nguồn lợi, phục hồi sinh cảnh và khai thác hợp lý…

Những hướng tiếp cận này cho thấy phát triển nuôi biển bền vững không chỉ là câu chuyện sản lượng, mà Tỉnh cần xây dựng Bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả, bao gồm giá trị kinh tế, thu nhập của hộ nuôi, chất lượng môi trường, mức độ tham gia của cộng đồng và khả năng duy trì sinh kế lâu dài.

Từ những phân tích trên, yêu cầu đặt ra cho An Giang trong giai đoạn 2026 - 2030 là chuyển các định hướng thành chương trình hành động có mục tiêu đo lường được. Quy hoạch phải đi trước đầu tư; giao khu vực biển phải gắn với trách nhiệm sử dụng; hỗ trợ vốn phải đi cùng hợp đồng và quản trị rủi ro; công nghệ phải gắn với đào tạo; còn mở rộng sản lượng phải dựa trên sức chịu tải môi trường và nhu cầu thị trường…

Tầm nhìn đến năm 2045 chỉ có thể trở thành hiện thực nếu những điểm nghẽn trước mắt được giải quyết bằng cơ chế minh bạch và phối hợp hiệu quả. Thước đo cuối cùng không phải số lượng dự án được công bố, mà là một ngành nuôi biển có sức cạnh tranh, người dân có thu nhập ổn định và tài nguyên biển được gìn giữ.

popup

Số lượng:

Tổng tiền:

Email Gọi ngay Facebook
Facebook Chat Icon Xin chào!
Mình có thể giúp gì bạn
hiephoinuoibienvietnam