Nuôi biển xanh hướng tới giảm phát thải

Quảng Ninh đang chuyển nuôi biển sang mô hình công nghiệp, công nghệ cao, sử dụng vật liệu bền vững và tăng khả năng tuần hoàn trong sản xuất.

Đưa công nghệ ra biển

Từ những lồng bè truyền thống ven bờ, nghề nuôi biển Quảng Ninh đang bước vào giai đoạn mới khi doanh nghiệp bắt đầu đưa công nghệ, vật liệu mới và phương thức nuôi tích hợp ra các vùng biển rộng hơn.

Tại khu vực biển gần đảo Minh Châu (đặc khu Vân Đồn), STP Group đang phát triển STP Farm theo hướng nuôi biển công nghiệp, ứng dụng công nghệ cao và tuần hoàn. Đây là bước tiếp theo trong quá trình doanh nghiệp nghiên cứu, thử nghiệm các mô hình nuôi biển bền vững tại Quảng Ninh.

Mô hình nuôi biển công nghệ cao của STP tại đặc khu Vân Đồn. Ảnh: STP Group.
Mô hình nuôi biển công nghệ cao của STP tại đặc khu Vân Đồn. Ảnh: STP Group.

Cụ thể, STP Farm tại Vân Đồn được quy hoạch trên diện tích 15ha mặt nước, triển khai theo từng giai đoạn. Toàn bộ hạ tầng, vật tư và thiết bị nổi sử dụng vật liệu HDPE, hướng tới độ bền dài hạn và đáp ứng yêu cầu môi trường.

Mô hình được tổ chức thành nhiều phân khu, gồm nuôi rong sụn, nuôi hàu biển, nuôi cá và khu vực thử nghiệm công nghệ. Trong đó, rong sụn được canh tác bằng giàn treo nổi HDPE, hàu được nuôi bằng giỏ HDPE treo tầng, cá được nuôi trong hệ thống lồng tròn HDPE có chu vi 40 - 50m.

STP Group không chỉ thay đổi vật liệu lồng bè mà còn tổ chức lại phương thức sản xuất theo mô hình nuôi đa tầng, đa loài (IMTA).

Rong, hàu và cá được bố trí ở những tầng dinh dưỡng khác nhau, qua đó tận dụng tốt hơn nguồn tài nguyên trong vùng nước nuôi. Theo thiết kế của STP Farm, mô hình IMTA kết hợp rong - hàu - cá nhằm tận dụng nguồn dinh dưỡng, giảm chất thải và cân bằng hệ sinh thái vùng nuôi.

Đây cũng là hướng đi đã được ngành nông nghiệp Quảng Ninh khuyến khích trong quá trình tái cơ cấu nuôi biển. Tỉnh đang chuyển mạnh từ hình thức nuôi nhỏ lẻ sang nuôi tập trung, ứng dụng công nghệ, phù hợp với sức tải môi trường và yêu cầu bảo tồn đa dạng sinh học.

Một trong những vấn đề môi trường lớn của nuôi biển truyền thống là vật liệu nổi. Phao xốp, gỗ và các vật liệu thiếu độ bền khi bị hư hỏng trôi dạt không chỉ gây thiệt hại cho sản xuất mà còn trở thành nguồn rác thải trên biển.

Quảng Ninh là địa phương đầu tiên ban hành quy chuẩn kỹ thuật địa phương về vật liệu sử dụng làm phao nổi trong nuôi trồng thủy sản. Ảnh: Nguyễn Thành.
Quảng Ninh là địa phương đầu tiên ban hành quy chuẩn kỹ thuật địa phương về vật liệu sử dụng làm phao nổi trong nuôi trồng thủy sản. Ảnh: Nguyễn Thành.

Việc chuyển sang HDPE vì thế không đơn thuần là thay thế vật liệu mà còn là bước chuyển về hạ tầng, giúp các vùng nuôi có khả năng chống chịu tốt hơn trước sóng gió, đồng thời tạo điều kiện tổ chức sản xuất quy mô lớn.

Tại STP Farm, các loại lồng HDPE được thiết kế cho nhiều mục đích khác nhau. Lồng tròn có khả năng chịu lực, thích ứng với vùng biển có sóng gió. Hệ thống phao, neo đáy được thiết kế đồng bộ nhằm hạn chế nguy cơ trôi dạt. Ống HDPE có khả năng chống tia UV, chống ăn mòn, tuổi thọ sử dụng dự kiến 20 - 30 năm.

Quan trọng hơn, công nghệ được đưa vào cả khâu quản lý. Các cảm biến liên tục theo dõi nhiệt độ, độ mặn, pH, oxy hòa tan và dòng chảy. Camera AI dưới nước theo dõi hành vi vật nuôi, tốc độ tăng trưởng và các dấu hiệu bất thường. Hệ thống GPS giúp xác định vị trí từng lồng, trong khi mã QR được kết nối với nhật ký điện tử để lưu trữ dữ liệu từ con giống, ngày thả nuôi đến các thông số môi trường và thời điểm thu hoạch.

Theo bà Nguyễn Thị Hải Bình, Tổng Giám đốc STP Group, việc ứng dụng công nghệ giúp doanh nghiệp chuyển từ cách nuôi dựa nhiều vào kinh nghiệm sang quản lý bằng dữ liệu, kiểm soát tốt hơn môi trường và quá trình sinh trưởng của vật nuôi.

Rong sụn nuôi kết hợp với hàu góp phần giảm áp lực môi trường. Ảnh: Nguyễn Thành.
Rong sụn nuôi kết hợp với hàu góp phần giảm áp lực môi trường. Ảnh: Nguyễn Thành.

“Muốn phát triển nuôi biển bền vững không thể chỉ tăng diện tích, tăng sản lượng. Vùng nuôi phải được quản lý bằng công nghệ, kiểm soát môi trường và giảm thiểu chất thải phát sinh trong quá trình sản xuất”, bà Bình cho biết.

Đây là điểm quan trọng khi nhìn mô hình STP Farm dưới góc độ giảm phát thải. Giảm phát thải không chỉ nằm ở việc có rong biển mà còn nằm trong cách thiết kế hạ tầng, sử dụng vật liệu bền vững, giảm thất thoát, tối ưu thức ăn và quản lý sản xuất bằng dữ liệu.

Trong mô hình của STP Farm, rong sụn và hàu Thái Bình Dương là hai sản phẩm chủ lực. Rong được nuôi bằng giàn treo HDPE, thời gian nuôi chính từ tháng 5 đến tháng 10. Năng suất rong sụn tươi đạt khoảng 25 - 30 tấn/ha/vụ, sau sơ chế thu khoảng 2,5 - 3,5 tấn rong khô.

Đáng chú ý, rong sụn được bố trí nuôi kết hợp với hàu. Trong khi hàu sử dụng nguồn thức ăn tự nhiên và chất hữu cơ trong nước, rong hấp thụ một phần chất dinh dưỡng dư thừa để sinh trưởng. Nhờ đó, các đối tượng nuôi có thể hỗ trợ lẫn nhau, vừa tận dụng hiệu quả mặt nước, vừa góp phần hạn chế chất thải và giữ ổn định môi trường vùng nuôi.

Về lâu dài, đây là hướng tiếp cận phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế biển xanh, cùng một diện tích mặt nước nhưng tạo ra nhiều sản phẩm, đồng thời giảm áp lực môi trường.

Mở rộng không gian nuôi biển công nghiệp

Chiến lược phát triển của STP Farm đặt ra trong bối cảnh Quảng Ninh có bước chuyển mạnh về phát triển nuôi biển. Ngày 23/6/2026, UBND tỉnh này đã ban hành Quyết định 2232/QĐ-UBND phê duyệt Đề án phát triển nuôi trồng thủy sản trên biển tập trung công nghiệp, hiện đại. Đề án xác định 5 vùng nuôi biển tập trung tại Vĩnh Thực, Cái Chiên, Vân Đồn, Cô Tô và vùng biển mở rộng ngoài 6 hải lý, tổng diện tích khoảng 93.600ha.

Quảng Ninh định hướng phát triển nuôi biển theo hướng công nghiệp, công nghệ cao. Ảnh: Nguyễn Thành.
Quảng Ninh định hướng phát triển nuôi biển theo hướng công nghiệp, công nghệ cao. Ảnh: Nguyễn Thành.

Đến hết tháng 6/2026, Quảng Ninh đã giao hơn 5.200ha mặt biển cho 57 tổ chức và 807 cá nhân nuôi trồng thủy sản. Việc giao khu vực biển được kỳ vọng tạo cơ sở pháp lý để doanh nghiệp đầu tư hạ tầng, hình thành các vùng nuôi tập trung và chuyển từ sản xuất nhỏ lẻ sang công nghiệp, hiện đại.

Theo ông Nguyễn Như Hạnh, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Quảng Ninh, tỉnh định hướng phát triển nuôi biển theo hướng công nghiệp, công nghệ cao, gắn với chế biến sâu, logistics và bảo vệ môi trường. Trong đó, việc hình thành các vùng nuôi tập trung là điều kiện quan trọng để nâng cao giá trị và tính bền vững của ngành.

Tỉnh không mở rộng nuôi biển bằng cách tận dụng tối đa mặt nước mà tổ chức lại không gian nuôi, kiểm soát sức tải môi trường và ứng dụng công nghệ để tạo thêm giá trị. Từ đó tạo nền tảng để Quảng Ninh tiến tới nền nuôi biển xanh, hiệu quả hơn và từng bước giảm phát thải trong toàn bộ chuỗi sản xuất.

Theo quy hoạch của tỉnh Quảng Ninh đến năm 2030, nuôi biển công nghiệp chiếm trên 75% sản lượng, tốc độ tăng trưởng bình quân 8 - 10%/năm. Đến năm 2050, nuôi trồng thủy sản trên biển kỳ vọng đóng góp 80% tổng sản lượng nuôi trồng thủy sản của tỉnh.

popup

Số lượng:

Tổng tiền:

Email Gọi ngay Facebook
Facebook Chat Icon Xin chào!
Mình có thể giúp gì bạn
hiephoinuoibienvietnam