Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo chồng chéo, giao thoa nhiều Luật, nhiều Bộ, cấp thiết phải sửa đổi, bổ sung

Để thúc đẩy phát triển kinh tế biển trong tình hình mới, cần thiết và cấp bách phải sửa đổi, bổ sung Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo năm 2015.

Chiều 5/6, tại phường Cửa Lò, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương phối hợp với UBND tỉnh Nghệ An tổ chức Hội thảo Quốc gia: "Hoàn thiện thể chế, chính sách thúc đẩy phát triển kinh tế biển bền vững".

Hội thảo Quốc gia: "Hoàn thiện thể chế, chính sách thúc đẩy phát triển kinh tế biển bền vững", diễn ra tại Cửa Lò, Nghệ An, chiều 5/6.

Cần thiết phải sửa đổi, bổ sung Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo năm 2015

Theo Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đặng Ngọc Điệp, thực thi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo được Quốc hội thông qua ngày 25/6/2015 và Nghị quyết số 36 ngày 22/10/2018 của Trung ương về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam, nhiều cơ chế, chính sách đã được ban hành, góp phần thúc đẩy phát triển các ngành kinh tế biển.

Tuy nhiên, kết quả hiện nay vẫn chưa tương xứng với lợi thế mà Việt Nam đang sở hữu, với hơn 3.260 km bờ biển, diện tích 1 triệu km2 cùng hệ thống hơn 4.000 hòn đảo, song đóng góp của kinh tế biển cho nền kinh tế còn hạn chế.

“Còn nhiều điểm nghẽn, đặc biệt là sự chồng chéo trong công tác quản lý Nhà nước”, Thứ trưởng nói. Ông dẫn hàng loạt ví dụ về sự giao thoa giữa Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo với Luật Điện lực, Luật Hàng hải cùng các quy định liên quan giữa nhiều bộ, ngành như Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Công Thương.

Những bất cập này khiến quá trình triển khai các dự án kinh tế biển gặp khó khăn, phát sinh thủ tục và tạo thêm gánh nặng cho doanh nghiệp. Chính vì vậy, việc sửa đổi, bổ sung Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo là yêu cầu cấp thiết nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn thể chế, đồng thời tạo hành lang pháp lý cho các lĩnh vực kinh tế biển mới như điện gió ngoài khơi, nuôi trồng thủy sản biển, khai thác tài nguyên biển sâu và phát triển du lịch biển.

Theo ông Điệp, trong quá trình khảo sát và hợp tác quốc tế đã ghi nhận nhiều tiềm năng phát triển kinh tế biển, đặc biệt ở lĩnh vực khai thác khoáng sản biển sâu. Qua làm việc với một số đối tác, không ít khu vực được đánh giá có tiềm năng lớn về khoáng sản chiến lược, với giá trị kinh tế cao. Bên cạnh đó, tiềm năng du lịch biển, đảo của Việt Nam hiện chưa được khai thác hiệu quả.

“Chúng ta có nhiều nơi rất đẹp, không thua kém các điểm nghỉ dưỡng nổi tiếng quốc tế, nhưng cơ chế phát triển và thu hút đầu tư vẫn còn hạn chế”, ông chia sẻ.

Tại hội thảo, Bộ Nông nghiệp và Môi trường dự kiến giới thiệu một số nội dung lớn trong dự thảo sửa đổi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, đồng thời lấy ý kiến từ các chuyên gia, nhà khoa học, hiệp hội và doanh nghiệp để hoàn thiện chính sách.

Nhằm khắc phục hạn chế, bất cập của pháp luật hiện hành, ông Nguyễn Quốc Toản, Cục trưởng Cục Biển và Hải đảo Việt Nam cho rằng, cần thiết phải sửa đổi, bổ sung Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo năm 2025.

Trên cơ sở tổng kết thực tiễn thi hành Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo năm 2015, ông Nguyễn Quốc Toản, Cục trưởng Cục Biển và Hải đảo Việt Nam việc sửa đổi, bổ sung Luật này là cần thiết, cấp bách, nhằm khắc phục hạn chế, bất cập của pháp luật hiện hành; thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước;

Tạo lập hành lang pháp lý đồng bộ, hiện đại, minh bạch để quản lý, khai thác, sử dụng hiệu quả không gian, tài nguyên biển; thúc đẩy kinh tế biển xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế carbon thấp; bảo vệ môi trường, hệ sinh thái biển; bảo đảm quốc phòng, an ninh, chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán và lợi ích quốc gia trên biển.

Theo ông Toản, trên cơ sở yêu cầu hoàn thiện thể chế quản trị biển hiện đại, phát triển kinh tế biển bền vững, bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh và lợi ích quốc gia trên biển, nội dung dự kiến đề xuất sửa đổi, bổ sung Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo tập trung vào một số nhóm nội dung mới, có tính nền tảng và tác động trực tiếp đến quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên, không gian biển trong giai đoạn mới.

Tàu Maersk Antares tại Cảng Quốc tế Cái Mép CMIT trong cụm Cái Mép - Thị Vải tại Bà Rịa - Vũng Tàu. Ảnh: CMIT.

Từ các nội dung sửa đổi mới nêu trên, sẽ góp phần chuyển từ quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo sang quản lý tổng hợp tài nguyên, không gian biển và môi trường biển.

Chuyển từ quản lý biển chủ yếu theo từng ngành, từng lĩnh vực sang quản trị biển tổng hợp, liên ngành, liên vùng, dựa trên Quy hoạch không gian biển quốc gia. Chuyển từ cơ chế giao khu vực biển sang chế định đầy đủ hơn về giao, cho thuê, đăng ký, đấu giá, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng khu vực biển và quản lý hồ sơ hải chính.

Chuyển từ pháp luật chủ yếu phục vụ quản lý, kiểm soát sang pháp luật vừa quản lý chặt chẽ, vừa kiến tạo phát triển, khơi thông nguồn lực, thúc đẩy kinh tế biển xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế carbon thấp và các ngành kinh tế biển mới.

Chuyển từ kiểm soát ô nhiễm theo hướng xử lý sự cố sang phòng ngừa, kiểm soát rủi ro, phục hồi môi trường, xác định trách nhiệm bồi thường và bảo đảm tài chính đối với thiệt hại môi trường biển. Chuyển từ quản lý biển chủ yếu bằng hồ sơ, thủ tục hành chính sang quản lý bằng quy hoạch, dữ liệu, công nghệ số, quan trắc, giám sát và cơ chế phối hợp liên ngành, liên vùng.

Đổi mới tư duy và nâng cao hiệu quả lãnh đạo, quản trị biển

Từ thực tế địa phương, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh Nguyễn Văn Công cho hay, tỉnh có bờ biển dài hơn 250km, ngư trường rộng lớn trên 6.100 km2 và hệ thống hơn 2.770 hòn đảo tự nhiên. Tuy nhiên, để chuyển hóa toàn bộ tiềm năng tự nhiên vô giá này thành giá trị kinh tế thực chất và bền vững thì đã và đang phải đối diện với 4 nút thắt lớn về mặt cấu trúc và thể chế.

Theo đó, dù sở hữu hệ thống cảng nước sâu (Cái Lân, Cẩm Phả) và 3 khu kinh tế cửa khẩu năng động, độ mở kinh tế (Kim ngạch xuất nhập khẩu/GRDP) của Quảng Ninh năm 2025 mới đạt khoảng 75%, mức thấp nhất trong vùng Đồng bằng sông Hồng. Nguyên nhân cốt lõi là do dải ven biển thiếu vắng các dự án công nghiệp chế biến, chế tạo quy mô lớn hướng về xuất khẩu; các doanh nghiệp FDI chủ yếu hoạt động theo chuỗi lắp ráp khép kín, trong khi dòng vốn tư nhân nội địa giai đoạn trước chủ yếu tập trung vào bất động sản và dịch vụ thông thường.

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh Nguyễn Văn Công nêu một số khó khăn trong phát triển kinh tế biển.

Hạ tầng hậu cần bãi triều và ven biển còn thiếu độ chuyên sâu: Đến nay, hệ thống cảng cá và hậu cần nuôi trồng thủy sản xa bờ còn hạn chế, toàn tỉnh vẫn chưa hình thành được hệ thống chợ đầu mối thủy sản hay trung tâm logistics nông - thủy sản quy mô vùng nhằm chuẩn hóa chuỗi cung ứng thương mại chính ngạch, làm hạn chế giá trị gia tăng của tài nguyên sinh vật biển địa phương.

Mâu thuẫn gay gắt về không gian chức năng giữa các ngành: Trục ven biển Hạ Long – Cẩm Phả là nơi đan xen phức tạp giữa nền công nghiệp truyền thống (khai thác than sản lượng gần 43 triệu tấn/năm, công nghiệp nhiệt điện than phục vụ an ninh năng lượng quốc gia) với yêu cầu bảo tồn nghiêm ngặt vùng lõi di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long – Quần đảo Cát Bà và phát triển du lịch sinh thái chất lượng cao.

Tác động cực đoan của hải văn và biến đổi khí hậu: Chế độ bán nhật triều không đều biên độ cao (3-4m) kết hợp địa hình cửa sông dốc khiến các khu vực thấp trũng như Quảng Yên, Đầm Hà, Hải Hà và Móng Cái thường xuyên đối mặt nguy cơ ngập úng khi triều cường, xâm nhập mặn sâu vào nội địa làm suy giảm chất lượng nước ngầm nông và gây xói lở bờ biển nghiêm trọng, đe dọa trực tiếp sinh kế bãi triều của người dân.

Đưa ra giải pháp phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam trong tình hình mới, ông Vũ Mạnh Hùng, Vụ trưởng Vụ Kinh tế ngành (Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương) cho hay, đầu tiên cần đổi mới tư duy và nâng cao hiệu quả lãnh đạo, quản trị biển.

Điều này bao gồm tăng cường tuyên truyền, nâng cao nhận thức toàn xã hội; đồng thời chuyển từ quản lý theo ngành sang quản trị không gian biển tổng hợp, dựa trên hệ sinh thái. Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, hoàn thiện cơ chế điều phối liên ngành đủ mạnh, rõ trách nhiệm và hiệu quả thực thi.

Hoàn thiện thể chế, pháp luật theo hướng đồng bộ, minh bạch và có tính đột phá. Trọng tâm là tháo gỡ chồng chéo, khơi thông nguồn lực, phát triển thị trường quyền sử dụng khu vực biển và sớm ban hành Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi). Đồng thời, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, bảo đảm “tốt trong thực tiễn”.

Huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, phát triển mạnh doanh nghiệp biển. Cần đa dạng hóa nguồn vốn, thúc đẩy tài chính xanh, hợp tác công - tư (PPP) và hình thành các tập đoàn kinh tế biển lớn, có năng lực cạnh tranh quốc tế, đóng vai trò dẫn dắt các ngành mũi nhọn.

Ông Vũ Mạnh Hùng, Vụ trưởng Vụ Kinh tế ngành (Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương) đưa ra loạt giải pháp để thúc đẩy phát triển kinh tế biển.

Đột phá về khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực. Ưu tiên công nghệ biển hiện đại, chuyển đổi số, xây dựng cơ sở dữ liệu biển quốc gia và thúc đẩy ứng dụng AI, viễn thám trong quản lý. Đồng thời, phát triển đội ngũ nhân lực chất lượng cao, chuyên sâu về kinh tế biển.

Phát triển các ngành kinh tế biển hiện đại, giá trị gia tăng cao. Tập trung vào các lĩnh vực chủ lực như du lịch biển chất lượng cao, hàng hải - logistics, dầu khí, thủy sản công nghệ cao và năng lượng tái tạo ngoài khơi. Đồng thời, thúc đẩy các ngành kinh tế biển mới như hydrogen, dược liệu biển, kinh tế sinh học biển.

Phát triển đồng bộ hạ tầng và không gian kinh tế biển. Đẩy mạnh hệ thống cảng biển, logistics, giao thông kết nối liên vùng; hình thành các trung tâm kinh tế biển mạnh, khu công nghiệp sinh thái, đô thị biển thông minh và các khu kinh tế ven biển hiện đại.

Bảo vệ môi trường, hệ sinh thái và nâng cao đời sống người dân biển. Kiểm soát ô nhiễm, phục hồi hệ sinh thái, ứng phó biến đổi khí hậu; đồng thời bảo đảm sinh kế bền vững, nâng cao chất lượng sống cho cư dân ven biển và hải đảo.

Kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế với quốc phòng, an ninh và hợp tác quốc tế. Bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo, giữ môi trường hòa bình; đồng thời chủ động hội nhập, thu hút nguồn lực, công nghệ và tham gia quản trị biển toàn cầu.

Cuối cùng, tăng cường kiểm tra, giám sát và đánh giá thực thi. Xây dựng hệ thống tiêu chí đo lường hiệu quả phát triển kinh tế biển; siết chặt giám sát các lĩnh vực nhạy cảm, bảo đảm kỷ cương, minh bạch và hiệu quả trong triển khai.

Nguồn: https://danviet.vn/luat-tai-nguyen-moi-truong-bien-va-hai-dao-chong-cheo-giao-thoa-nhieu-luat-nhieu-bo-cap-thiet-phai-sua-doi-bo-sung-d1432495.html?shem=dsdf,sharefoc,agadiscoversdl,,sh/x/discover/m1/4

popup

Số lượng:

Tổng tiền:

Email Gọi ngay Facebook
Facebook Chat Icon Xin chào!
Mình có thể giúp gì bạn
hiephoinuoibienvietnam