Đưa từng lồng bè, tàu cá vào bản đồ số

Khánh Hòa muốn hoạt động sử dụng biển như nuôi trồng thủy sản, du lịch, bảo tồn... phải có tọa độ số, bản đồ và đánh giá sức tải môi trường trước khi phát triển.

Ý kiến được ông Nguyễn Duy Quang, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Khánh Hòa nêu tại Hội nghị "Sơ kết công tác 6 tháng đầu năm và Triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026 của ngành nông nghiệp và môi trường" chiều 2/7.

Điểm thay đổi quan trọng trong cách tỉnh nhìn nhận kinh tế biển, là biển được xem như một tài sản cần quản trị bằng dữ liệu, tiêu chuẩn và cơ chế giám sát liên ngành. Với một địa phương có dải kinh tế biển kéo dài từ Vân Phong, Nha Trang, Cam Ranh, Ninh Chử, Vĩnh Hy đến Cà Ná và đặc khu Trường Sa, yêu cầu này trở nên cấp thiết hơn khi nhiều ngành cùng sử dụng một không gian hạn hữu.

Khánh Hòa có diện tích biển rộng lớn, nhiều dư địa để phát triển kinh tế biển. Ảnh: Kim Sơ.
Khánh Hòa có diện tích biển rộng lớn, nhiều dư địa để phát triển kinh tế biển. Ảnh: Kim Sơ.

Nuôi biển không thể phát triển theo tự phát

Nút thắt lớn hiện nay là chồng lấn không gian biển. Một vùng biển có thể cùng chịu áp lực từ nuôi trồng thủy sản, du lịch, giao thông hàng hải, neo đậu tránh trú bão, bảo tồn và quốc phòng. Khi cơ sở dữ liệu không gian biển chưa đồng bộ, việc cấp phép, giám sát, xử lý môi trường hoặc phân định trách nhiệm dễ bị phân tán.

Thực tế, kinh tế biển đang là trụ cột của Khánh Hòa. Năm 2025, sản lượng thủy sản đạt hơn 280.000 tấn, kim ngạch xuất khẩu thủy sản 870 triệu USD, chiếm 37,8% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn tỉnh. Riêng sản xuất tôm giống đạt gần 50 tỷ con, cung ứng khoảng 25-30% thị phần cả nước. Tuy nhiên, quy mô càng lớn thì yêu cầu truy xuất nguồn gốc, kiểm soát khai thác IUU, giám sát hành trình tàu cá và xác nhận sản lượng qua cảng càng trở thành điều kiện sống còn.

"Khánh Hòa đặt nuôi biển công nghệ cao là hướng đột phá", Giám đốc Quang nói. Sau khi Thủ tướng phê duyệt đề án thí điểm, tỉnh đã phê duyệt 24 khu vực biển từ vùng bờ đến 6 hải lý, tổng diện tích 4.759 ha. Sản lượng nuôi biển tăng từ 10.000 tấn năm 2020 lên hơn 20.000 tấn năm 2025. Một số vùng nuôi đã chuyển sang lồng HDPE, cho ăn tự động, quan trắc môi trường; 6 hợp tác xã ứng dụng công nghệ hiện đại tại vùng biển hở như Đầm Bấy, Hòn Nội.

Tuy nhiên, nuôi biển chỉ trở thành ngành công nghiệp xanh nếu được đặt trong kỷ luật không gian. Tỉnh xác định phải giao khu vực biển theo lộ trình khoa học, quy định bắt buộc về vật liệu lồng bè thích ứng bão gió, mật độ nuôi, thu gom chất thải và quan trắc môi trường. Doanh nghiệp “hạt nhân” sẽ liên kết với hợp tác xã, tổ hợp tác và hộ dân để hình thành chuỗi giá trị khép kín, vừa bảo đảm đầu ra, vừa giảm rủi ro môi trường.

Cách làm này cũng nhằm xử lý điểm yếu lâu nay của vùng nguyên liệu thủy sản. Mã số cơ sở nuôi, nhật ký sản xuất, chất lượng con giống, thức ăn và thuốc thú y thủy sản chưa được số hóa, chuẩn hóa đồng bộ. Với các sản phẩm chủ lực như tôm hùm, cá biển, nhuyễn thể, rong biển, Khánh Hòa dự kiến thiết lập mã vùng nuôi và truy xuất nguồn gốc điện tử. Khi đó, mỗi sản phẩm xuất khẩu không chỉ cần sản lượng, mà phải chứng minh được vùng nuôi, quy trình và trách nhiệm môi trường.

Giữ vốn tự nhiên để tăng trưởng dài hạn

Phát triển mạnh kinh tế biển nhưng Khánh Hòa không đặt bảo tồn đối lập với phát triển. Các rạn san hô, thảm cỏ biển, rừng ngập mặn, khu bảo tồn biển vịnh Nha Trang, Vườn quốc gia Núi Chúa và Đầm Nại được xem là “vốn tự nhiên” phục vụ du lịch sinh thái, thủy sản, nghiên cứu khoa học và sinh kế cộng đồng.

Áp lực hiện nay đến từ rác thải nhựa đại dương, nước thải sinh hoạt từ đất liền, chất thải du lịch và đô thị ven biển. Vì vậy, tỉnh đặt nhiệm vụ kiểm soát nguồn thải, đầu tư xử lý nước thải tập trung tại đô thị ven biển, khu du lịch, cảng cá; đồng thời phục hồi rạn san hô, thảm cỏ biển, rừng ngập mặn và thả rạn nhân tạo.

Nếu triển khai được hệ thống dữ liệu dùng chung về vùng bờ và không gian biển, Khánh Hòa sẽ có công cụ để trả lời những câu hỏi cụ thể trước mỗi dự án. Chẳng hạn, khu vực được giao biển có thể nuôi bao nhiêu lồng bè, đón bao nhiêu khách, chịu được bao nhiêu nguồn thải, có ảnh hưởng đến luồng tàu, khu bảo tồn hay sinh kế ngư dân hay không.

Đó cũng là điều người dân, doanh nghiệp cần từ chiến lược kinh tế biển xanh, nơi quyền khai thác đi kèm trách nhiệm và tăng trưởng đi cùng giới hạn môi trường.

Nguồn: nongnghiepmoitruong.vn

popup

Số lượng:

Tổng tiền:

Email Gọi ngay Facebook
Facebook Chat Icon Xin chào!
Mình có thể giúp gì bạn
hiephoinuoibienvietnam